Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây tụt lợi

Nguyên nhân tụt lợi có thể là do chải răng sai kỹ thuật làm sang chấn mòn lợi (lợi mỏng và thấp dần). Mặc dù chải răng quan trọng cho sự lành mạnh của lợi nhưng chải răng không đúng kỹ thuật gây mòn lợi. Các nghiên cứu đã cho thấy có sự liên quan giữa tụt lợi và thói quen dùng bàn chải cứng. Sang chấn từ răng đối diện trong quá trình nhai cắn (sang chấn khớp cắn) có thể gây tụt lợi mặt ngoài.

Do viêm quanh răng; sang chấn khớp cắn là yếu tố thuận lợi làm trầm trọng tụt lợi do tăng sinh biểu mô và viêm tại chỗ.

Mức độ mòn lợi bị ảnh hưởng bởi vị trí của răng trên cung hàm, góc của chân răng trong xương hàm, độ cong gần xa của bề mặt chân răng. Ở những răng xoay, nghiêng, sai vị trí lệch ra phía tiền đình thì tấm xương ổ răng mỏng, bị giảm chiều cao, áp lực khi nhai thức ăn cứng hoặc do chải răng sẽ làm mòn phần lợi không được xương nâng đỡ phía dưới, gây ra tụt lợi.

Nguyên nhân do góc độ của chân răng trong xương hàm dễ thấy nhất ở vùng răng hàm lớn hàm trên. Nếu chân hàm ếch nghiêng nhiều về phía hàm ếch hoặc hai chân phía tiền đình ngả ra phía ngoài nhiều quá sẽ làm xương ở vùng cổ răng mỏng và ngắn, dẫn đến mòn bờ lợi không được xương nâng đỡ. Nếu kèm theo mòn mặt nhai thì co lợi sẽ trầm trọng hơn. Mòn mặt nhai thường đồng hành với chồi răng và làm tăng rõ sự nghiêng của chân răng, điều này càng làm giảm lượng xương ổ răng che phủ cổ răng và tăng tụt lợi do giảm sự nâng đỡ lợi; teo tổ chức quanh răng ở người già; phanh niêm mạc miệng bám sai vị trí.

Tụt lợi là hiện tượng bờ lợi co về phía cuống răng làm hở chân răng.

Tụt lợi là hiện tượng bờ lợi co về phía cuống răng làm hở chân răng.

Tụt lợi có thể gây mất răng?

Lợi tụt làm bề mặt chân răng lộ ra nên dễ bị sâu chân răng. Chân răng lộ ra sẽ bị mòn khi chải răng làm lộ ngà răng, do đó răng ê buốt khi bị kích thích nóng lạnh, chua ngọt. Khi tụt lợi vượt quá ranh giới lợi dính – niêm mạc tiền đình thì bờ lợi thường xuyên bị co kéo trong các hoạt động chức năng nhai, nói làm bong lợi khỏi bề mặt răng. Ngoài ra còn tạo điều kiện cho mảng bám, thức ăn và vi khuẩn tích tụ, nhất là co lợi ở vùng kẽ răng tạo mùi hôi miệng, vi khuẩn tích tụ lâu dài dẫn đến viêm quanh chân răng, làm ảnh hưởng thẩm mỹ với nhóm răng phía trước.

Tụt lợi nếu để lâu ngày không điều trị sẽ làm cho các tổ chức xung quanh răng bị lỏng lẻo, răng bị tổn thương dẫn đến tiêu xương ổ răng và có thể gây mất răng.

Phương pháp điều trị

Loại I: Tụt lợi chưa tới đường ranh giới lợi – niêm mạc miệng và mô quanh răng ở kẽ răng chưa bị tổn thương. Có thể phẫu thuật che phủ hoàn toàn chân răng bị lộ.

Loại II: Tụt lợi tới hoặc vượt qua đường nối lợi – niêm mạc miệng và mô quanh răng ở kẽ răng chưa bị tổn thương. Có thể phẫu thuật che phủ hoàn toàn chân răng bị lộ.

Loại III: Tụt lợi vượt qua  đường ranh giới lợi – niêm mạc miệng, kèm theo mô quanh răng ở kẽ răng bị phá hủy. Vì mô quanh răng ở kẽ răng bị phá hủy nên chỉ có thể phẫu thuật che phủ một phần chân răng bị lộ. Mức độ che phủ của phẫu thuật là đường nối điểm giữa bờ lợi của hai răng bên cạnh.

Loại IV: Là tụt lợi loại III cộng với răng bị lung lay, di chuyển do bệnh quanh răng. Phẫu thuật vạt lợi che phủ chân răng không thể thành công. Nếu răng còn chỉ định bảo tồn thì phẫu thuật làm tăng chiều cao lợi dính.

Cách nào khắc phục?

Tụt lợi có ảnh hưởng rất lớn về mặt thẩm mỹ của khuôn mặt cũng như làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về nướu và thậm chí gây rụng răng. Có thể làm chậm lại hay ngăn chặn sự tiến triển của căn bệnh tụt lợi bằng nhiều biện pháp. Tốt nhất là nên tới nha sĩ kiểm tra răng 2 lần/năm và tuân thủ theo hướng dẫn của nha sĩ để bảo vệ sức khỏe răng miệng. Một lối sống lành mạnh luôn là ưu tiên hàng đầu để phòng các bệnh răng miệng: một chế độ dinh dưỡng cân bằng và từ bỏ thuốc lá có vai trò vô cùng quan trọng. Đối với trường hợp sâu chân răng, giải pháp là hàn lỗ sâu chân răng, chải răng sau các bữa ăn để đề phòng sâu chân răng. Chân răng bị mòn lộ ngà răng nên sử dụng các thuốc chải răng giảm ê buốt, bán tại các cửa hàng, siêu thị. Nếu sử dụng thuốc chải răng không hiệu quả thì cần tới bác sĩ để điều trị.

BS. Nguyễn Thị Hồng Minh

LEAVE A REPLY