Dê rừng và dê nhà có một số đặc điểm khác nhau, trên thực tế chữa trị bệnh tật, y học cổ truyền vẫn thường sử dụng chung cả hai loại. Các bộ phận được dùng gồm có thịt dê, gan dê, dạ dày dê, phổi dê, thận dê, tinh hoàn dê, tiết dê, xương dê…

Thịt dê

Vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ huyết ích khí, ôn trung noãn thận. Được dùng để chữa các chứng thiếu máu, gầy yếu, suy nhược cơ thể, chán ăn, đau bụng do hư hàn, thận dương hư gây đau lưng mỏi gối, liệt dương, di tinh, di niệu… Ví như, để chữa các chứng suy nhược cơ thể, đau bụng do hư hàn… sách Kim quỹ yếu lược dùng thịt dê 250g thái miếng hầm thật nhừ với 30g đương quy và 15g sinh khương rồi chắt nước cốt uống; để chữa chứng tỳ vị hư nhược, chán ăn, nôn và buồn nôn do hư hàn; sách Ẩm thực chính yếu dùng thịt dê 250g thái vụn rồi nấu với 180g gạo thành cháo, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày; để chữa chứng liệt dương, di tinh, di niệu, lưng đau gối mỏi do thận dương hư; sách Thực y tâm kính dùng 250g thịt dê luộc chín, thái miếng, trộn đều với 15g tỏi giã nát và các gia vị khác vừa đủ rồi ăn…

Gan dê

Vị ngọt, tính bình có công dụng bổ huyết ích can và làm sáng mắt. Được dùng để chữa các chứng thiếu máu, gầy còm, hoa mắt, suy giảm thị lực… do can hư. Ví như, để chữa chứng suy nhược cơ thể, hoa mắt chóng mặt, thị lực giảm sút do can huyết hư, sách Bản thảo cương mục dùng gan dê 150g thái miếng nấu với 50g gạo tẻ thành cháo, chế đủ gia vị, chia ăn vài lần trong ngày; để chữa chứng can hỏa vượng biểu hiện bởi các triệu chứng đau đầu, hoa mắt chóng mặt, mắt đỏ…, cổ nhân dùng gan dê 60g, cúc hoa 10g, cốc tinh thảo 10g, tất cả sắc kỹ, bỏ bã lấy nước, chia uống 3 lần trong ngày.

Thuốc tốt từ dêĐương quy hầm với thịt dê để trị chứng suy nhược cơ thể, đau bụng do hư hàn…

Thận dê

Còn gọi là nội thận, vị ngọt, tính bình, có công dụng bổ thận khí, ích tinh tủy. Được dùng dể chữa các chứng suy nhược cơ thể, lưng đau gối mỏi, tai ù tai điếc, di tinh, di niệu, liệt dương… do thận hư. Ví như, để chữa chứng liệt dương, xuất tinh sớm… cổ nhân dùng thận dê 1 đôi làm sạch thái miếng, đem hầm với nhục thung dung 12g, kỷ tử 10g, thục địa 10g và ba kích 8g được gói trong túi vải, khi chín bỏ bã thuốc, chế thêm gia vị, ăn nóng; để chữa chứng gầy yếu suy nhược, tai ù tai điếc, di tinh, liệt dương, hậu sản hư lãnh, cổ nhân dùng thận dê 100g, thịt dê 100g, kỷ tử 50g, gạo tẻ 50g, gia vị vừa đủ, tất cả đem nấu thành cháo, chia ăn vài lần; để chữa chứng đau lưng mạn tính, sách Trửu hậu bị cấp phương dùng thận dê 1 đôi thái miếng hầm với đậu đen 60g, đỗ trọng 12g, tiểu hồi hương 3g, sinh khương 3 lát, khi chín bỏ bã thuốc, chế thêm gia vị, chia ăn 2 lần trong ngày.

Tinh hoàn dê

Còn gọi là ngoại thận, vị ngọt mặn, tính bình, có công dụng bổ thận, tráng dương, ích tinh. Được dùng để chữa các chứng di tinh, liệt dương, hạ bộ hư lãnh, thiểu năng sinh dục… Ví như, để chữa các chứng đau lưng do thận hư, di tinh, liệt dương, tiêu khát (đái đường), khí hư, sa đì…, cổ nhân thường dùng tinh hoàn dê nấu cháo ăn thường xuyên; để chữa bệnh liệt dương dùng tinh hoàn dê 1 đôi và nhung hươu 3g ngâm với 500ml rượu trắng, sau nửa tháng có thể dùng được, uống mỗi ngày từ 15 – 20 ml; hoặc dùng tinh hoàn dê 1 đôi làm sạch, bỏ màng, thái miếng, nấu với nước dùng xương lợn trong 5 phút, chế thêm gia vị, ăn nóng.

Dạ dày dê

Vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ hư, kiện tỳ, ích vị. Được dùng để chữa các chứng suy nhược cơ thể, gầy mòn, đái tháo đường, chán ăn, tự ra mồ hôi nhiều, đi tiểu vặt… Ví như, để chữa bệnh viêm đại tràng và dạ dày mạn tính thể tỳ vị hư hàn, cổ nhân dùng dạ dày dê 1 cái hầm với gừng tươi, giềng và nhục quế (lượng vừa đủ), chia ăn vài lần trong ngày; để kiện tỳ, cố biểu, liễm hãn dự phòng cho người dễ bị cảm mạo, hay đổ mồ hôi nhiều, cổ nhân dùng dạ dày dê 1 cái hầm với 50g đậu đen và 40g hoàng kỳ, chia ăn 2 lần trong ngày.

Phổi dê

Vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ phế khí, điều thủy đạo, được dùng dể chữa các chứng ho suyễn, đái tháo đường, tiểu tiện không thông hoặc đi tiểu nhiều lần. Ví như, để chữa chứng ho kéo dài do phế hư, tiểu tiện bất lợi, sách Phổ tế phương dùng phổi dê 500g thái vụn luộc kỹ lấy nước bỏ bã rồi cho thêm 150g thịt dê thái miếng và 100g gạo tẻ nấu nhừ thành cháo, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày; để bổ phổi và phòng chống pôlíp mũi, sách Thiên kim dực phương dùng phổi dê 1 lá, bạch truật 120g, nhục thung dung 60g, thông thảo 60g, can khương 60g, xuyên khung 60g, tất cả sấy khô tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 5 – 10g với nước cháo.

Xương dê

Vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ thận, cường gân cốt. Được dùng để chữa các chứng suy nhược cơ thể, phong thấp, lưng đau gối mỏi, tiêu khát, bệnh lỏng lỵ kéo dài… Ví như, để điều trị chứng phong thấp, gầy yếu do lao lực, đầu choáng mắt hoa, sách Thiên kim dực phương dùng xương dê 1.000g hầm với 60g gạo tẻ thành cháo, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày; để chữa chứng đau lưng mạn tính, sách Ẩm thực chính yếu dùng xương dê 1.000g hầm với 6g trần bì, 6g giềng, 2 quả thảo quả và 30g gừng tươi, lấy nước cốt nấu cháo ăn; để chữa trẻ em chậm phát dục, sách Thái bình thánh huệ phương dùng xương sống dê 500g hầm kỹ với 10g nhục dung và 100g hoài sơn thành dạng bột lỏng, chia ăn vài lần.

BS. Lê Thị Hương

LEAVE A REPLY